Nghệ
thuật thưởng trà Việt đã được
hình thành từ rất lâu trong đời sống người Việt. Từ nửa sau thế kỉ thứ nhất người
Việt đã biết trồng chè để phục vụ đời sống. Và tại những vùng núi trung du ,
châu thổ ấy đã hình thành nên thứ chè độc nhất thế giới riêng có ở Việt
Nam. Văn
hóa uống trà hình thành sớm như vậy
qua từng bước thưởng trà ta có thể thấy được cả văn hóa của dân tộc ẩn chứa
trong đó, từ khâu chuẩn bị trà, pha trà, rót trà và thưởng trà
Nghệ thuật uống trà của người Việt được gói gọn trong một câu:
“Nhất thủy, nhì trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh”
Nước chè: Nước chè thích hợp là loại nước tinh khiết được hứng từ những giọt sương đọng trên lá, từ những hạt mưa hay từ nước suối đầu nguồn. Chỉ có những thứ nước này mới giữ được hương vị thiên nhiên của chè. Sau khi lấy được nước phải đun bằng ấm đất trên bếp lò dùng than đốt, bởi nó không bốc mùi như củi khô, hay các loại dầu
Nước sôi phải vừa đủ: Nếu không đủ sôi thì trà không phai, nếu sôi quá thì trà lại nồng, các cụ gọi là “cháy” trà, với các loại trà xanh thì đun sôi sủi tăm, còn với trà tẩm hương (trà sen, trà nhài, trà cúc, v.v.) thì đun ở độ sôi đầu nhang.
Nghệ thuật uống trà của người Việt được gói gọn trong một câu:
“Nhất thủy, nhì trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh”
Nước chè: Nước chè thích hợp là loại nước tinh khiết được hứng từ những giọt sương đọng trên lá, từ những hạt mưa hay từ nước suối đầu nguồn. Chỉ có những thứ nước này mới giữ được hương vị thiên nhiên của chè. Sau khi lấy được nước phải đun bằng ấm đất trên bếp lò dùng than đốt, bởi nó không bốc mùi như củi khô, hay các loại dầu
Nước sôi phải vừa đủ: Nếu không đủ sôi thì trà không phai, nếu sôi quá thì trà lại nồng, các cụ gọi là “cháy” trà, với các loại trà xanh thì đun sôi sủi tăm, còn với trà tẩm hương (trà sen, trà nhài, trà cúc, v.v.) thì đun ở độ sôi đầu nhang.